xin vào chùa ở một thời gian
Bởi vậy nên em mong muốn tìm đến một ngôi chùa nào đấy để có thể tĩnh tâm một thời gian nhưng không biết tìm ở đâu và làm cách nào. Theo một số lời khuyên thì bảo là cứ đến chùa nào xin ở cũng được nhưng như vậy có phiền hà cho nhà chuà ko ạ?
2- Sự phát triển của đạo phật dưới thời Lý. 3-Tìm hiểu về một số ngôi chùa thời Lý Chùa Keo Chùa Keo Thái Bình gồm 21 hạng mục lớn, nhỏ (154 gian). Trải qua trên 300 năm, chùa đã được tu bổ, tôn tạo nhiều lần, vào các năm 1689, 1707, 1941, 1957, 2004.
Con mong được vào chua VK xin sống một thời gian, hay một ngôi chùa Nguyên Thủy nào đó, hay xin sang Miến Điện học tập, mong Thầy giúp con và cho con lời khuyên ạ. Con có thể sang một số trường thiền ở Miến Điện như Fa Auk hoặc Panditarama để xuất gia và ở bên đó một
Vay Tien Nhanh Home Credit. Cổng chùa và ngôi chùa Tam Bảo ở địa chỉ số 3 đường Sư Thiện Ân, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Hình Bùi Thụy Đào Nguyên Patrice Trần Văn Mãnh Ở Hà Tiên ai trong chúng ta cũng biết chùa Tam Bảo, từ xa xưa ngôi chùa cổ kính và trang nghiêm nầy đã rất quen thuộc với chúng taqua những ngày hội cúng kiếng dâng lễ Phật, cho tới những lần đến chùa du ngoạn và thăm thầy, bạn vì có một vài thầy và trò đã từng ở trọ trong chùa để đi dạy hoặc học tại trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa. thầy Nguyễn Lê Hùng, Hồ Quang Điệp trong những năm thập niên 60 đã ở trọ trong chùa Tam Bảo Hà Tiên. A/ Vài ý cần giới thiệu trước khi vào bài Trước khi đi vào đề tài chính về lai lịch của chùa Tam Bảo, mình xin nhấn mạnh một vài điểm sau đây 1/ Toàn tỉnh Kiên Giang có đến hai ngôi chùa mang cùng tên Tam Bảo Một chùa nằm tại địa chỉ số 3 đường Sư Thiện Ân, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Chùa nầy do một người thường dân tên là Dương Thị Oán cất vào những năm cuối thế kỷ 18 với kết cấu đơn thời gian bị nhà Tây Sơn truy đuổi, Chúa Nguyễn Ánh đã từng trú ẩn tại đây và được bà Oán tặng vài cuộn tơ tằm quý để cột quai chèo thuyền không đứt khi vượt biển. Vì vậy sau khi lên ngôi, năm 1803, vua Nguyễn nhớ ơn đã ban biển Sắc Tứ cho chùa, từ đó, chùa được gọi là Sắc Tứ Tam Bảo Tự. Chùa Tam Bảo thứ hai nằm tại địa chỉ số 75, đường Phương Thành, phường Bình San, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Chùa Tam Bảo ở Hà Tiên cũng được vua nhà Nguyễn ban Sắc Tứ nên trước cổng chùa có đề tên Sắc Tứ Tam Bảo Tự. Vậy chúng ta để ý đừng định vị sai lầm hai ngôi chùa cùng tên nầy. Có rất nhiều trang du lịch trên mạng dùng hình của chùa Tam Bảo ở Rạch Giá mà lại mô tả minh họa cho chùa Tam Bảo ở Hà Tiên cũng như các trang đó dùng hình ảnh Hang Cá Sấu thuộc xã Bình An, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang để mô tả và minh họa cho Hang Đá Dựng thuộc phường Mỹ Đức, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang…!!. Chủ đề của bài viết nầy nói về ngôi chùa Tam Bảo ở Hà Tiên. Cổng chùa và ngôi chùa Tam Bảo ở địa chỉ số 75, đường Phương Thành, phường Bình San, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Hình Nguyễn Tấn Trung 2/ Bài viết nầy chỉ nhằm mục đích phổ biến rộng rãi một cách bình dân những kết quả của các nghiên cứu do các nhà khảo cứu về vùng đất Hà Tiên và sự nghiệp họ Mạc như tài liệu Họ Mạc với Hà Tiên » trong tập Nghiên Cứu Hà Tiên » của nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt, 2017,..v..v.. do đó bài không đi sâu dẫn chứng tư liệu phần lớn uyên bác và rất cần sự chú ý nghiêm túc mới thấm nhuần được các lý giải, dẫn chứng về các kết luận khoa học. Để được hiểu thêm sâu rộng, thầy cô và các bạn có thể tiếp tục đọc sách chuyên và tra cứu trên mạng những bài đã xuất bản về chủ đề nầy. 3/ Để đính chánh một lần thứ n » nữa về các nhận định có tính chất sai lầm về lịch sử Hà Tiên nói chung và về nguồn gốc chùa chiền ở Hà Tiên nói riêng, mình xin nhấn mạnh ở đây điểm nầy Trong suốt cuộc đời phiêu lưu và định cư ở miền đất Hà Tiên theo nghĩa rộng tức là nói chung về các địa điểm mà Mạc Cửu đã từng xuôi ngang dọc trong suốt thời kỳ bắt đầu đi theo thương thuyền buôn bán ở miền biển phía Nam Trung Hoa, Mạc Cửu có xây dựng hai ngôi chùa Chùa thứ nhất lập ra ở đất Lũng Kỳ còn có tên là Trủng Kè, Long Cả, Lũng Cả, miền đất nầy nằm ở phía tây bắc của đảo Phú Quốc, cách Phú Quốc một eo biển tên là Koh Thmay, eo biển Phú Dự, vùng đất nầy ngày nay đã thuộc về nước Kampuchéa hay Cambodge. Theo truyền thuyết kể lại, vào năm 1718 khi Mạc Cửu đem gia quyến đi chạy giặc Xiêm từ Hà Tiên qua Lũng Kỳ, có một cái đầm nước tại đây tự nhiên nổi lên một tượng Phật cao bảy thước, tỏa hào quang rực rỡ. Lúc đó có một nhà sư Chân Lạp đi ngang qua thấy vậy bảo đó là điềm tốt, báo hiệu sẽ có một hiền nhân xuất hiện. Mạc Cửu sai người vớt lên nhưng bao nhiêu người cũng không khiêng lên được. Ông đành xây một ngôi chùa nhỏ ngay trên bờ đầm để thờ gọi tên là chùa Lũng Kỳ. Ít lâu sau, phu nhân của ông sinh hạ được một cậu trai mặt mày khôi ngô tuấn tú. Thấy hợp với điềm lành, Mạc Cửu đặt tên con trai là Thiên Tứ nghĩa là trời ban tặng. Ngôi chùa thứ hai cũng do Mạc Cửu làm ra chính là chùa Tam Bảo ở Hà Tiên, lúc đầu chỉ là chùa nhỏ đơn sơ lợp lá dựng ở phía sau dinh thự của ông ngay tại trung tâm Hà Tiên, cốt yếu để cho mẹ của ông tu dưởng ở đó. Về ông Mạc Thiên Tích thì trái với tin và chuyện đời truyền khẩu cho đến hiện tại bây giờ vẫn còn người tiếp tục giải thích Mạc Thiên Tích không có xây dựng ngôi chùa nào cả kể cả ngôi chùa Phù Dung gọi là Phù Dung Cổ Tự. Người ta thường ghép và thi vị hóa cho rằng Mạc Thiên Tích xây chùa Phù Dung cho bà Dì Tự tu vì bà đã chán cảnh đời, nhưng sự thật là không phải như vậy, vì chiếu theo niên biểu của Mạc Thiên tích 1718 – 1780 và nguồn gốc chùa Phù Dung thì ta thấy có sự chênh lệch về năm tháng rất lớn chùa Phù Dung cũ được xây trước năm 1833 tại chân núi Phù Dung núi Đề Liêm và đã bị giặc Xiêm phá hủy năm 1833. sau đó chùa Phù Dung mới được nhân dân dựng lên vào năm 1846 ngay tại chân núi Bình San. Như vậy vào năm 1846 tức là trong vòng 66 năm sau khi Mạc Thiên Tích qua đời giai đoạn của chùa Phù Dung mới thì hoàn toàn không có mặt ông Mạc Thiên Tích. Chúng ta cần đính chánh rỏ cho khách du lịch và những người còn chưa hiểu rỏ về việc nầy để lịch sử không bị sai lệch. Tóm lại Mạc Thiên Tích không có xây cất ngôi chùa nào cả, ông chỉ dựng Miếu thờ Khổng Tử cùng với công trình xây cất ngôi nhà Chiêu Anh Các 1736-1771 mà thôi. B/ Các giai đoạn của chùa Tam Bảo Hà Tiên Về nguồn gốc của chùa Tam Bảo Hà Tiên, ta có thể phân ra thành 5 giai đoạn như sau 1/ Giai đoạn 1 Sau khi Mạc Cửu đến định cư ở đất Mang Khảm Hà Tiên vào năm 1700, ông chiêu dụ dân chúng đến lập nghiệp, mở ra thôn xóm. Đến năm 1708, ông dâng đất cho chúa Nguyễn và được phong làm Tổng Binh, đất Mang Khảm được gọi là Hà Tiên Trấn. Thời kỳ nầy được an lành, cơ ngơi được ổn định cho đến năm 1718 thì quân Xiêm sang xâm chiếm Hà Tiên, Mạc Cửu phải chạy giặc qua Lũng Kỳ tị nạn. Trong khoảng thời gian từ năm 1700 đến năm 1718, mẹ của ông Mạc Cửu Thái Bà Bà ở quê nhà Trung Quốc được ông cho người rước qua Hà Tiên vì bà có tỏ lòng nhớ con, mặc dù đã được 80 tuổi, mẹ ông ngỏ ý muốn đi tu vì sùng mộ Đạo Phật và ở lại luôn ở Hà Tiên. Mạc Cửu cho xây một ngôi chùa nhỏ phía sau dinh thự của ông cho mẹ an vị tu hành. Chùa nầy chính là chùa Tam Bảo của Hà Tiên hiện nay mặc dù ngôi chùa Tam Bảo hiện nay không phải là nguyên dạng hình ảnh của ngôi chùa ngày xưa vì đã được xây đi cất lại qua nhiều giai đoạn. Tuy nhiên ta có thể xem như vị trí của ngôi chùa Tam Bảo từ trước năm 1718 do Mạc Cửu cất cho đến nay cũng vẫn là một khuôn viên tuy diện tích có thể nhỏ lớn khác nhau theo từng thời kỳ. Cũng trong thời kỳ nầy, Thái Bà Bà mẹ của Mạc Cửu mất, ông chôn cất mẹ phía sau chùa, có cho đúc một tượng Phật và một cái chuông lớn để tôn thờ tưởng niệm người mẹ. Sau đó giặc Xiêm chiếm đóng Hà Tiên 1718, Mạc Cửu cùng gia quyến chạy ra Lũng Kỳ tị nạn. Thành trì và chùa Tam Bảo lúc đó đều bị quân Xiêm phá nát, người chết quá nhiều chung quanh khu thành, đất đai trở nên âm u yếm khí nên sau khi trở lại Hà Tiên năm 1719 khi giặc Xiêm chấm dứt, Mạc Cửu xây dựng lại nhà ở, chọn nơi cao ráo sách sẽ ngay trước cái ao sen do ông cho đào ở núi Bình San lúc trước, chủ yếu chọn nơi cao để tránh ô nhiểm, đó là ngay chỗ có ngôi Đền Mạc Công Miếu hiên nay. Ngôi chùa Tam Bảo lúc trước đó bị phá hủy và không ai xây cất lại nữa. Trong suốt thời gian từ 1719 đến năm 1771 tức 52 năm không ai cất chùa lại. Trên địa thế khu phế tích của Mạc Cửu đó chỉ còn lại vài ba cái tháp khoảng 3 cái tháp theo ghi nhận trên bản đồ Pháp vẻ năm 1869. Theo các khảo cứu thì đó là tháp của quý sư ông trụ trì đời Lâm Tế thứ 35, thứ 36 và bảo tháp của Thái Bà Bà, mẹ ông Mạc Cửu hiện vẫn còn ba cái tháp nầy tại khuôn viên chùa Tam Bảo hiên nay. Đặc biệt là trong khuôn viên chùa Tam Bảo, hoàn toàn không có các tháp của quý sư đời Lâm Tế thứ 37, 38 và 39 vì sau năm 1719 không có chùa nữa. Một vài giai đoạn lịch sử có ảnh hưởng không thuận tiện cho việc cất chùa lại là trong khoảng 1771-1773, quân Xiêm lại chiếm đóng Hà Tiên, khoảng 1775-1777 quân Tây Sơn đến Hà Tiên tình hình rất hổn loạn bất an. Bản đồ do người Pháp vẻ tay vào năm 1869 khu vực Hà Tiên. Ô vuông đứng màu vàng phía trên là khu phế tích dinh thự thành quách của Mạc Cửu, trong đó có ghi rỏ vị trí chùa Tam Bảo đầu tiên và ba hình tròn nhỏ xem như ba bảo tháp còn lại. Khu ô chữ nhật màu vàng phía dưới là khu thành cũ của Mạc Thiên Tích xây dựng. Vị trí chùa Tam Bảo nằm trong khu phế tích thành xưa của Mạc Cửu 2/ Giai đoạn 2 Đến đời Gia Long 1802-1819 vua cho người về Hà Tiên kiến thiết xứ sở 1811. Lúc nầy nhân dân lập lại chùa Tam Bảo và có sắc phong của vua nên chùa được mang tên Sắc Tứ Tam Bảo Tự cũng ngay tại chỗ cũ. Đến năm 1834 giặc Xiêm đánh phá Hà Tiên nữa, chùa lại bị hư hại, rốt cuộc lần nầy chùa chỉ tồn tại trong vòng 23 năm. Cho đến khi người Pháp chiếm Hà Tiên 1867 và thực hiện bản đồ vẽ tay 1869 chùa Tam Bảo vẫn chưa được cất lại vì trong bản đồ chỉ ghi Ruines » tức là phế tích mà không có ghi rỏ chùa chiền Pagodes nào cả. 3/ Giai đoạn 3 Đến năm 1901, chùa Tam Bảo được tái thiết lại bằng gỗ và có tượng Phật được an vị trên nền đất. Trong thời gian nầy có sư Phước Ân đời Lâm Tế thứ 40 đến chùa trụ trì cho đến năm 1920. 4/ Giai đoạn 4 Vào năm 1920 sư trụ trì cho khởi công xây lại chùa và công việc hoàn thành vào năm 1930. Trong chùa mới xây lại nầy sư cho tôn cao lên nền chánh điện và an vị tượng Phật trên cao. Sư trụ trì cũng cho trồng một hàng cây sao. Sư Phước Ân viên tịch năm 1946, tháp của sư cũng nằm sau chùa cùng với ba bảo tháp ngày xưa. Trong thời gian xây lại chùa, sư trụ trì có mời một bác sĩ người Pháp tên là Isnard đến ở tại chùa, trong một ngôi nhà tân thời vào thời đó, ngôi nhà nầy chính là ngôi nhà liêu dành cho quý sư trụ trì, nằm bên trái chùa. Lúc khánh thành chùa mới xây xong, có vị sư đời Lâm Tế thứ 39 ở Sài Gòn về dự và có vợ chồng Tri Huyện ở Rạch Giá cúng dường một quả chuông có khắc chữ ghi nhận sự kiện khánh thành chùa mới nầy. 5/ Giai đoạn 5 Đến năm 1974 có Ni sư Thích Nữ Như Hải về chùa Tam Bảo trụ trì. Vì từ khi chùa được kiến tạo năm 1930, Hà Tiên cũng bước qua nhiều giai đoạn chiến tranh biên giới, ngôi chùa cũng đã bị hư hao nhiều. Sư bà đã tổ chức trùng tu và kiến tạo một số công trình như An vị tượng Bồ Tát Quan Âm lộ thiên cao 5m, nặng 7 tấn ở vườn cây trước chùa, trùng tu chánh điện và nhà Tổ năm 1979, an vị tượng đức Phật Thích Ca tọa thiền dưới cội bồ đề năm 1983 ở sân trước chùa, an vị tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn năm 1987 sau điện Phật, xây dựng cổng tam quan, phục chế bức tường đã sụp đổ năm 1992, an vị đài Di Lặc năm 2000 ở sân giữa chùa, an vị tượng Di Mẫu và 6 vị Tỳ kheo ni năm 2003 ở sân trước chùa. Hiện nay ngôi chùa Tam Bảo đã có một quy mô rất lớn, hai bên chùa cũng có xây cất nhà cửa cao ráo, chùa được sơn phết lại, cổng chùa xây cất rất hoành tráng, sân chùa có rất nhiều tượng Phật đủ tư thế,…Nhìn chung đó là nơi để du khách đến hành hường, tham quan và chiêm ngưỡng tưởng nhớ người xưa, nhưng cũng gần như mất mát đâu đó một chút hồn thiêng của ngôi chùa xưa đất Hà Tiên xa xưa, của phong cảnh mộc mạc, bình dị của một ngôi chùa thuở ban đầu với chất liệu đơn sơ… C/ Những gì còn lại sau khi ngôi chùa đầu tiên bị giặc Xiêm phá hủy năm 1718? Sau khi mẹ của ông Mạc Cửu tu trong chùa Tam Bảo đầu tiên do Mạc Cửu lập ra, và đã hóa thân khi bà tụng niệm trước bàn thờ Phật, Mạc Cửu đã lập mộ của mẹ phía sau chùa, đồng thời truyền thuyết cho rằng ông cũng cho đúc kim thân của mẹ để thờ phụng, đúc tượng Phật A Di Đà và cũng có cho đúc một Đại Hồng Chung để trong chùa có thuyết cho là ông cho người thỉnh từ Trung Hoa sang kim thân A Di Đà và chiếc chuông nầy. Theo cái nhìn phân tích có tư liệu và khoa học của các nhà nghiên cứu sau nầy, đặc biệt là tác giả Trương Minh Đạt, quý ông cho rằng ngôi mộ bảo tháp của Thái Bà Bà, mẹ của Mạc Cửu vẫn còn ở sau chùa Tam Bảo hiện nay. Về ngôi tượng kim thân của mẹ Mạc Cửu thì đã không còn hay không hiện hữu, về kim thân A Di Đà thì vẫn còn an vị trong chánh điện của chùa hiện nay, tuy nhiên qua bao nhiêu thời gian và bao chinh biến, bức tượng Phật đã được sơn phết nhiều lớp nên rất khó xác định nguồn gốc. Còn quả Đại Hồng Chung thì hiện nay trong chùa vẫn có một quả chuông đồng xưa, nhưng vì chữ khắc trên chuông quá mờ không đọc rỏ ra, các nhà nghiên cứu cho rằng đó chính là quả chuông của một cặp vợ chồng Phật Tử Tri Huyện ở Rạch Giá cúng dường lúc làm lễ khánh thành chùa mới cất xong 1930. Lý lẽ có thể tin được là trong các thời gian có giặc Xiêm xâm chiếm Hà Tiên, cả ngôi tượng Phật, quả chuông đồng khó thoát khỏi sự tàn phá hủy hoại hay lấy cướp của giặc Xiêm. Tuy nhiên có một điều là sự thật và cũng là niềm an ủi lớn cho hậu bối như chúng ta là mặc dù đã sau nhiều lần xây cất sửa chữa lại, người ta vẫn còn giữ một vài vách đá xưa, vết tích của hào thành của Mạc Cửu thời đó, vách thành sau hơn 300 năm vẫn còn đứng vững mặc dù chỉ xây bằng vật liệu của thời đó, vật liệu làm bằng vôi và ô dước, mong rằng những vị có trách nhiệm quản lý ngôi chùa Tam Bảo hiện nay hãy quan tâm bảo tồn di tích duy nhất nầy còn lại nầy trong khuôn viên phế tích của thời Mạc Cửu…. D/ Về tên gọi Chùa Tiêu ». Tên gọi Chùa Tiêu » được dẫn ra trong bài thơ Tiêu Tự hiểu chung » có nghĩa là chuông sớm ở chùa vắng một trong 10 bài thơ nôm của Mạc Thiên Tích trong tập thơ Hà Tiên thập cảnh khúc vinh » cũng là một trong những bài thơ chữ Hán trong tập Hà Tiên thập vịnh » của Mạc Thiên Tích. Có rất nhiều lý luận và kết luận về vị trí của ngôi chùa Tiêu nói trong bài thơ. Có ba khẳng định như sau 1/ Chùa Tiêu là chùa ở núi Địa Tạng gần khu Thạch Động, 2/ Chùa Tiêu là chùa Phù Dung cũ ở núi Phù Dung Đề Liêm, 3/ Chùa Tiêu tức là chùa Tam Bảo hiện nay. Cả ba kết luận nầy rất khó mà phán xét đúng hay sai lầm. Tuy nhiên xét theo lý giải khoa học và tổng hợp, so sánh các niên biểu thì ta thấy chùa Tiêu có thể là ngôi chùa Phù Dung xưa, được cất trước năm 1833 và đã bị phá hủy sau đó khi có giặc Xiêm đánh phá Hà Tiên 1833. Khi Mạc Thiên Tích được sinh ra ở Lũng Kỳ 1718 và khi ông được Mạc Cửu đưa gia đình trở lại Hà Tiên 1719 thì chùa Tam Bảo chùa của giai đoạn 1 đầu tiên đã bị giặc Xiêm phá hủy. Vậy trong suốt thời gian còn trẻ thơ của Mạc Thiên Tích ông không có nghe tiếng chuông nào của chùa Tam Bảo..!! Đến khi chùa Tam Bảo được nhân dân cất lại vào năm 1811 thì Mạc Thiên Tích đã mất từ lâu ông mất năm 1780. Vậy nói chùa Tam Bảo là chùa Tiêu có phần không hợp lý. Giai đoạn ra đời và hoạt động của thi đàn Chiêu Anh Các tại Hà Tiên là từ 1736 đến 1771. Chùa Phù Dung cũ được cất vào năm nào không ai rỏ, chỉ biết là chùa đã có từ trước năm 1833 và khi đến năm 1833 giặc Xiêm phá hủy chùa tan nát. Vậy nếu Mạc Thiên Tích có làm thơ nói về tiếng chuông chùa thì chùa Phù Dung cũ phải có mặt từ trước năm 1771 tức là năm mà tòa nhà Chiêu Anh Các bắt đầu bị bỏ hoang phế. Trên sơ đồ ta thấy nếu đặt giả thuyết cho rằng chùa Phù Dung cũ được cất vào năm 1736 hay trước đó nữa thì Mạc Thiên Tích mới nghe được tiếng chuông và làm thơ ca ngợi trong bài Tiêu Tự hiểu chung ». !! Trong sơ đồ có phần chữ nhật màu đỏ chính là phần tương ứng với sự có mặt đồng thời giữa hoạt động thi đàn Chiêu Anh Các của Mạc Thiên Tích và sự hiện diện của chùa Phù Dung cũ dĩ nhiên là trong giả thuyết là chùa Phù Dung cũ phải được cất lên vào những năm trước năm 1771. Một ngôi chùa có thể được tồn tại rất nhiều năm mặc dù chùa được cất đơn sơ, nếu ta chấp nhận cho chùa Phù Dung cũ được vững vàng trong một thời gian ít nhất là 97 năm tính từ khi được cất lên 1833 -97 = 1736 cho đến lúc bị phá bỏ 1833 thì rất có khả năng thi đàn Chiêu Anh Các của Mạc Thiên Tích và chùa Phù Dung cũ cùng hiện diện trong khoảng một thời gian 1771- 1736 = 35 năm , 35 năm thời gian rộng rãi đủ để Mạc Thiên Tích nghe tiếng chuông chùa vào mỗi buối sáng sớm…và làm ra bài thơ…!! Còn nói chùa Tiêu chính là chùa Địa Tạng ở núi Địa Tạng gần Thạch Động thì không ổn lắm vì chùa Địa Tạng cách chùa Phù Dung mới ở núi Bình San hiện nay là 6 dặm tức 6*0,720 km = 4,32 km vì một dặm = 0,72 km như vậy chùa Địa Tạng ở quá xa vùng Bình San nơi có Chiêu Anh Các ngày xưa, Mạc Thiên Tích không thể nghe tiêng chuông vào buổi sáng được. Vả lại không ai biết chùa Địa Tạng được xây cất vào năm nào, đến năm 1946 chùa vẫn còn đứng vững, sau đó đến thời kỳ chiến tranh thì chùa mới bị hư hại. Còn giả thuyết cho rằng chùa Phù Dung mới được nhân dân cất lại tại núi Bình san năm 1845-1846 thì hoàn toàn không hợp lý vì lúc đó Mạc Thiên Tích đã qua đời từ rất lâu rồi ông mất năm 1780. Tóm lại chùa Tiêu được nhắc tới trong thơ Hán và Nôm của Mạc Thiên Tích qua bài Tiêu Tự hiểu chung » Rừng Thiền sít sát án ngoài tào Chuông gióng chùa Tiêu tiếng tiếng cao chính là ngôi chùa Phù Dung cũ được cất trước năm 1833 tại núi Đề Liêm lúc xưa còn có tên chánh thức là núi Phù Dung, chùa nầy chỉ cách núi Bình San nơi có ngôi nhà Chiêu Anh Các của Mạc Thiên Tích ở khoảng không đầy 1 km. Nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt khẳng định chùa nầy chính là chùa Tiêu mà Mạc Thiên Tích nói trong bài thơ nàm trong tập thơ của Chiêu Anh Các. Mong rằng các nhà văn học, nghiên cứu lịch sử xem xét và tán thành ý kiến nầy. Bức hình chùa Tam Bảo Hà Tiên xưa nhất hiện nay chúng ta có 1957 Hình KimLy Chùa Tam Bảo Hà Tiên. Hình do nhiếp ảnh gia nổi tiếng Quách Ngọc Bá xuất bản vào những năm 60-70 Tác giả bài viết TVM xin trân trọng cám ơn nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt và tất cả các nhiếp ảnh viên đã có hình được trích minh họa cho bài nầy. Chú thích Theo tài liệu của Phật Giáo Kiên Giang Giác Ngộ Online, sau đây là tên các vị thầy đã có thời gian trụ trì ở chùa Tam bảo Hà Tiên Đời trụ trì đầu tiên của chùa Tam Bảo là Hòa Thượng Ân Hạ cũng là vị Hòa thượng khai nguyên cho Phật Giáo xứ Hà Tiên. Đến nay, chùa Tam Bảo đã trải qua 19 đời trụ trì là những vị chân tăng như Hòa Thượng Hòa Quang, Thiền sư Nhất Đới, Thiền sư Trí Tàng, Thiền sư Hoằng Ân, Thiền sư Hải Huệ, Thiền sư Giác Ngạn, Thiền sư Như Đức, Thiền sư Như Khả, Thiền sư Phước Chơn, Hòa Thượng Thuần Hạnh, Yết Ma Phước Thành, Hòa Thượng Phước Ân 1920 – 1946, Hòa Thượng Phước Quang, Hòa Thượng Quảng Đức, Hòa Thượng Vĩnh Đạt, Hòa Thượng Chánh Định, Thượng Tọa Thiện Giác 1960 – 1974 và từ năm 1974 đến nay là Ni sư Thích Nữ Như Hải thế danh Huỳnh Thị Phước. Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết. Mời xem thêm những bài viết có liên hệ đến chùa Tam Bảo Hà Tiên rất hay 1/ Bài viết của thầy Nguyễn Lê Hùng đã từng dạy Pháp Văn tại trường Trung Học Hà Tiên trong những năm đầu thạp niên 60. 2/ Bài viết của Cô Nguyễn Phước Thị Liên, cô giáo, nhà văn của Hà Tiên “Kỷ Niệm Về Cố Hòa Thượng Huyền Vi”. Patrice Trần Văn Mãnh Bài nầy đã được đăng trên Blog Trung Học Hà Tiên Xưa ngày 21/11/2018.
Theo phong tục cổ truyền, trong các ngày rằm, mồng một, ngày lễ Phật giáo, Tết nguyên đán…gia hộ cho bản thân và gia đình mạnh khoẻ, tai qua nạn khỏi. Nhưng làm sao để khấn cho đúng, gửi lời được đến bề trên thì không phải ai cũng biết. Hãy cùng Bảo Long tìm hiểu chi tiết hơn qua bài viết sau. Lên chùa chiền thường cầu gì? Mùa xuân du khách bốn phương về lễ Phật ở các chùa. Các sư thầy đều dạy, tới chùa lễ chú trọng sám hối, ăn năn trước những lỗi lầm, cầu xin có cơ hội sửa chữa, hoàn trả sai trái, có cơ hội làm việc thiện lành giúp đời. Tốt nhất mọi người nên cầu nguyện cho quốc thái dân an, cầu cho người sống có sức khỏe, an lạc, tâm hồn luôn sáng và thiện lành, khởi tâm cầu đạo, giác ngộ và kính tin phật pháp. Sau đó nguyện hồi hướng công đức cho các oan gia trái chủ, cho người thân, người đã khuất và các chúng sinh siêu thoát. Mọi người đến chùa đều tìm kiếm cho mình một nơi thanh tịnh, tìm kiếm sự an yên đâu đó >>>Xem thêm các mẫu lư hương bằng đồng cao cấp, chất lượng Đầu năm các chùa đều tổ chức cầu an cho các gia đình. Người dân đi lễ chùa nên cầu Phật gia hộ được bình an, công việc hanh thông, cầu phúc thiện, sức khỏe cho mình và người thân. Tùy sở nguyện mà cầu, nhưng đừng cầu quá tham mà không được. Còn bình thường các ngày rằm, mồng 1 ngày sóc, vọng và các dịp lễ tết, những ngày có việc hệ trọng người dân đến chùa lễ Phật với tâm thành kính cầu khấn xin chư phật, chư bồ tát và các hiền thánh hộ độ cho được thiện duyên, may mắn, mạnh khoẻ, sống lâu, tai qua, nạn khỏi, hạn ách tiêu trừ, gia đình hoà thuận, hạnh phúc an khang, thế giới hoà bình, văn minh xã hội, chúng sinh an lạc… Đồng thời hồi hướng công đức cho người thân đã khuất, cho các chúng sinh ở “thế giới bên kia” được siêu sinh tịnh độ Đông nhất là vào những nhịp đặc biệt như đầu năm, rằm, lễ hội Không nên cầu gì khi đi lễ chùa? Đi chùa không nên cầu tiền bạc, công danh, vật chất như cầu trúng số, cầu thăng quan tiến chức…, vì Phật không ban tiền bạc, vật chất… Phật, thánh thần không ban phúc cho ai, cũng không gieo họa cho ai. Tất cả là tâm thành và theo luật nhân quả, người nào có quả phúc chín thì gặt về. Tới chùa không nên cầu xin năm nay được thế này, thế nọ. Đạo Phật là nhân sinh, không như đạo khác. Con người nếu không có tự lực khả năng của mình thì tha lực trợ độ của tâm linh cũng không giúp được. Vậy đi chùa cần chuẩn bị những gì? Ví như cầu cho con thi đỗ đại học, thì phải nhắm xem khả năng của con có thể học trường nào, theo hướng nào tự lực để đạt kết quả. Nếu cứ cầu xin tha lực giúp, mà con cái không có năng lực thì sao có thể đỗ? Đi lễ chùa tâm nghĩ sao thì khấn nôm na cầu vậy. Cầu gì cũng không nên lễ dài dòng. Cách lễ dài dòng không phải là lễ của đạo Phật, mà là theo cách lễ dân gian. Đến Chùa hành lễ cần theo thứ tự như sau 1. Đặt lễ vật Thắp hương và làm lễ ban thờ Đức Ông trước. 2. Sau khi đặt lễ ở ban Đức Ông xong, đặt lễ lên hương án của chính điện, thắp đèn nhang. 3. Sau khi đặt lễ chính điện xong thì đi thắp hương ở tất cả các ban thờ khác của nhà Bái Đường. Khi thắp hương lên đều có 3 lễ hay 5 lễ. Nếu chùa nào có điện thờ Mẫu, Tứ Phủ thì đến đó đặt lễ, dâng hương cầu theo ý nguyện. 4. Cuối cùng thì lễ ở nhà thờ Tổ nhà Hậu 5. Cuối buổi lễ, sau khi đã lễ tạ để hạ lễ thì nên đến nhà trai giới hay phòng tiếp khách để thăm hỏi các vị sư, tăng trụ trì và có thể tuỳ tâm công đức. Không cần quá cầu kỳ tổ tiên, bề trên quan trọng nhất vẫn là tấm lòng thành kính của bạn >>>Xem thêm các mẫu bát hương đồng bày trí ban thờ tổ, chùa, đền Đi lễ chùa khấn như thế nào? Văn khấn cầu bình an, tài lộc, giải hạn Nam mô A Di Đà Phật! 3 lần, 3 lạy Đệ tử con thành tâm kính lạy Mười phương chư Phật, chư vị Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng, Hộ pháp Thiện thần, Thiên Long Bát Bộ. Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm ….. Tín chủ con là ……………………………………………………………………………………. Ngụ tại ……………………………………………………………………………………………… Thành tâm dâng lễ bạc cùng sớ trạng nếu viết sớ đặt trên mâm lễ vật lên cửa Mười phương Thường trụ Tam Bảo. Chúng con xin dốc lòng kính lễ – Đức Phật A Di Đà giáo chủ cõi Cực Lạc Tây phương. – Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giáo chủ cõi Sa Bà. – Đức Phật Dược Sư Lưu Ly giáo chủ cõi Đông phương. – Đức Thiên thủ, Thiên nhãn, Ngũ bách danh tầm thanh cứu khổ cứu nạn, linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát. – Kính lạy Đức Hộ Pháp thiện thần Chư Thiên Bồ Tát. Kính xin chư vị rủ lòng từ bi, phù hộ độ trì cho con, nguyện được ……………………………… công danh, tài lộc, giải hạn, bình an…. Nguyện xin chư vị, chấp kỳ lễ bạc, tâm thành sớ trạng chứng minh, chứng giám cho con được tai quan nạn khỏi, điều lành đem đến, điều dữ tiêu tan, phát lộc phát tài, gia trung mạnh khoẻ, trên dưới thuận hoà an khang thịnh vượng. Chúng con người phàm trần tục lầm lỗi còn nhiều. Cúi mong Phật, Thánh từ bi đại xá cho con và gia đình được tai qua nạn khỏi, mọi sự tốt lành, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm. Tín chủ chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì. Nam mô A Di Đà Phật! 3 lần, 3 lạy Cách khấn khi đi chùa mùng 1 1. Văn khấn Đức Ông – Đức Chúa Ông Tôn giả Tu-đạt Nam mô A Di Đà Phật! 3 lần, 3 lạy Kính lạy Đức Ông Tu Đạt Tôn Giả, Thập Bát Long Thần, Già Lam Chân Tể. Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm ….. Tín chủ con là ……………………………………………………………………………………. Ngụ tại ……………………………………………………………………………………………… Cùng cả gia đình thân tới cửa chùa …………………………….. trước điện Đức Ông, thành tâm kính lễ, nếu có đang lễ vật thì khấn thêm “hiến dâng phẩm vật, kim ngân tịnh tài”, chúng con tâu lên Ngài Tu Đạt Tôn Giả từ cảnh trời cao soi xét. Chúng con kính tâu lên Ngài Già Lam Chân Tể cai quản trong nội tự cùng các Thánh Chúng trong cảnh chùa đây. Thiết nghĩ chúng con sinh nơi trần tục, nhiều sự lỗi lầm, hôm nay tỏ lòng thành kính, cúi xin Đức Ông thể đức hiếu sinh, rủ lòng tế độ che chở cho chúng con, ba tháng hè chín tháng đông, tiêu trừ bệnh tật tai ương, vui hưởng lộc tài may mắn, cầu gì cũng được, nguyện gì cũng thành. Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì. Nam mô A-di-đà Phật 3 lần, 3 lạy 2. Văn khấn Đức Thánh Hiền Đức A-nan-đà Tôn Giả Nam mô A Di Đà Phật! 3 lần, 3 lạy Con cúi lạy Đức Thánh Hiền, Đại Thánh Khải Giáo A Nan Đà Tôn Giả. Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm ….. Tín chủ con là ……………………………………………………………………………………. Ngụ tại ……………………………………………………………………………………………… Chúng con thành tâm tiến dâng lễ bạc, oản quả, hương hoa. Cầu mong Tam Bảo chứng minh, Đức Thánh Hiền chứng giám, rủ lòng thương xót phù hộ cho con được mọi sự tốt lành, sức khỏe dồi dào, an ninh khang thái, gia đạo hưng long, thịnh vượng. Cúi mong Ngài soi xét tâm thành, phù hộ cho gia đình chúng con được sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm. Nam mô A-di-đà Phật 3 lần, 3 lạy 3. Văn khấn cầu tài, cầu lộc, cầu bình an ở ban Tam Bảo Phật Bảo, Pháp Bảo, Tăng Bảo Nam mô A Di Đà Phật! 3 lần, 3 lạy Đệ tử con thành tâm kính lạy Mười phương chư Phật, chư vị Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng, Hộ pháp Thiện thần, Thiên Long Bát Bộ. Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm ….. Tín chủ con là ……………………………………………………………………………………. Ngụ tại ……………………………………………………………………………………………… Thành tâm dâng lễ bạc cùng sớ trạng nếu viết sớ đặt trên mâm lễ vật lên cửa Mười phương Thường trụ Tam Bảo. Chúng con xin dốc lòng kính lễ – Đức Phật A Di Đà giáo chủ cõi Cực Lạc Tây phương. – Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giáo chủ cõi Sa Bà. – Đức Phật Dược Sư Lưu Ly giáo chủ cõi Đông phương. – Đức Thiên thủ, Thiên nhãn, Ngũ bách danh tầm thanh cứu khổ cứu nạn, linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát. – Kính lạy Đức Hộ Pháp thiện thần Chư Thiên Bồ Tát. Kính xin chư vị rủ lòng từ bi, phù hộ độ trì cho con, nguyện được ……………………………… công danh, tài lộc, giải hạn, bình an…. Nguyện xin chư vị, chấp kỳ lễ bạc, tâm thành sớ trạng chứng minh, chứng giám cho con được tai quan nạn khỏi, điều lành đem đến, điều dữ tiêu tan, phát lộc phát tài, gia trung mạnh khoẻ, trên dưới thuận hoà an khang thịnh vượng. Chúng con người phàm trần tục lầm lỗi còn nhiều. Cúi mong Phật, Thánh từ bi đại xá cho con và gia đình được tai qua nạn khỏi, mọi sự tốt lành, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm. Tín chủ chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì. Nam mô A Di Đà Phật! 3 lần, 3 lạy 4. Văn khấn Bồ-tát Quán Thế Âm Nam mô A Di Đà Phật! 3 lần, 3 lạy Nam mô Đại từ Đại bi Linh cảm Quán Thế Bồ Tát. Kính lạy Đức Viên Thông giáo chủ thuỳ từ chứng giám. Chúng con có nghe Đức Phật dạy trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa phẩm Phổ Môn rằng “Dù chỉ nghe tên Quán Thế Âm Hay dù chỉ thấy bức chân dung, Nhất tâm trì niệm hồng danh ấy, Thoát mọi hung tai, được cát tường”. Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm ….. Tín chủ con là ……………………………………………………………………………………. Ngụ tại ……………………………………………………………………………………………… Thành tâm đến trước Phật đài, nơi điện Đại bi, kính dâng phẩm vật, hương hoa kim ngân tịnh tài, ngũ thể đầu thành, nhất tâm kính lễ dưới toà sen hồng. Cúi xin Đức Đại Sỹ không rời bản nguyện chở che cứu vớt chúng con như mẹ hiền phù trì con đỏ. Nhờ nước dương chi, lòng trần cầu ân thanh tịnh, thiện nguyện nêu cao. Được ánh từ quang soi tỏ, khiến cho nghiệp trần nhẹ bớt, tâm đạo khai hoa, độ cho đệ tử cùng gia đình bốn mùa được chữ bình an, tám tiết khang ninh thịnh vượng, lộc tài tăng tiến, gia đạo hưng long, mầm tai ương tiêu sạch làu làu, đường chính đạo thênh thang tiến bước. Cầu gì cũng được, nguyện gì cũng thành. Tín chủ chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì. Nam mô Quán Thế Âm Bồ-tát! 3 lần, 3 lạy. Tượng phật bằng đồng thường được thờ nhiều ở chùa chiền, đền, miếu, nhà thờ tổ Các bài khấn đi đền Văn khấn Thành hoàng ở Đình, Đền, Miếu – Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. – Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần. – Con xin kính lạy ngài Kim Niên Đương cai Thái tuế chí đức Tôn thần. – Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành Hoàng chư vị Đại Vương. Hưởng tử con là………………………………………………..Tuổi…………. Ngụ tại………………………………………………………………………. Hôm nay là ngày…… tháng……năm………………..Âm lịch Hương tử con đến nơi……………Đình hoặc Đền hoặc Miếu thành tâm kính nghĩ Đức Đại Vương nhận mệnh Thiên đình giáng lâm ở nước Việt Nam làm Bản cảnh Thành Hoàng chủ tể một phương bấy nay ban phúc lành che chở cho dân. Nay hương tử chúng con thành tâm dâng lên lễ bạc, hiến tế hương hoa, phẩm oản… Cầu mong đức Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương chứng giám, rủ lòng thương xót, phù hộ che chở cho chúng con sức khoẻ dồi dào, mọi sự tốt lành, lắm tài nhiều lộc, an khang thịnh vượng, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm. Hương tử con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì. Phục duy cẩn cáo! Hạ lễ Sau khi kết thúc khấn, lễ ở các ban thờ, thì trong khi đợi hết một tuần nhang có thể viếng thăm phong cảnh nơi thừa tự, thờ tự. Khi thắp hết một tuần nhang có thể thắp thêm một tuần nhang nữa. Thắp nhang xong, vái 3 vái trước mỗi ban thờ rồi hạ tiền, vàng… đồ mã đem ra nơi hoá vàng để hoá. Khi hoá tiền, vàng… cần hoá từng lễ một, từ lễ của ban thờ chính cho tới cuối cùng là lễ tiền vàng… ở ban thờ Cô thờ cậu. Hoá tiền vàng xong mới hạ lễ dâng cúng khác. Khi hạ lễ thì hạ từ ban ngoài cùng vào đến ban chính. Riêng các đồ lễ ở bàn thờ Cô, thờ Cậu như gương, lược… thì để nguyên trên bàn thờ hoặc giả nơi đặt bàn thờ này có nơi để riêng thì nên gom vào đó mà không đem về. Văn khấn ban Công Đồng – Con lạy chín phương trời, mười phương Chư phật, Chư phật mười phương – Con lạy đức Vua cha Ngọc Hoàng Thượng Đế – Con lạy Tam Toà Thánh Mẫu – Con lạy Tam phủ Công Đồng, Tứ phủ Vạn linh – Con lạy Tứ phủ Khâm sai – Con lạy Chầu bà Thủ Mệnh – Con lạy Tứ phủ Đức Thánh Hoàng – Con lạy Tứ phủ Đức Thánh Cô – Con lạy Tứ phủ Đức Thánh Cậu – Con lạy cộng đồng các Giá, các Quan, mười tám cửa rừng, mười hai cửa bể. – Con lạy quan Chầu gia. Hương tử con là…………………………………….Tuổi………………….. Cùng đồng gia đại tiểu đẳng, nam nữ tử tôn Ngụ tại………………………………………………………. Hôm nay là ngày…… tháng…… năm………………Âm lịch. Tín chủ con về Đền…………… thành tâm kính lễ, xin Chúa phù hộ độ trì cho gia đình chúng con sức khoẻ dồi dào, phúc thọ khang ninh, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, cầu bình an đắc bình an, vạn sự hanh thông, gặp nhiều may mắn. Phục duy cẩn cáo! Ai ai tìm đến nơi này cũng sẽ có trong mình những ước nguyện Văn khấn lễ Tam Toà Thánh Mẫu Đức đệ tứ khâm sai Thánh Mẫu, tứ vi chầu bà, năm toà quan lớn, mười dinh các quan, mười hai Tiên cô, mười hai Thánh cậu, ngũ hổ Đại tướng, Thanh Hoàng Bạch xà đại tướng – Con kính lạy Đức Hiệu Thiên chí tôn kim quyết Ngọc Hoàng Huyền khung cao Thượng đế. – Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần. – Con xin kính Cửu trùng Thanh Vân lục cung công chúa. – Con kính lạy Đức thiên tiên Quỳnh Hoa Liễu Hạnh Mã Hoàng Công chúa, sắc phong Chế Thắng Hoà Diệu đại vương, gia phong Tiên Hương Thánh Mẫu. – Con kính lạy Đức đệ nhị đỉnh thượng cao sơn triều mường Sơn tinh công chúa Lê Mại Đại Vương. – Con kính lạy Đức đệ tứ khâm sai Thánh Mẫu, tứ vi chầu bà, năm toà quan lớn, mười dinh các quan, mười hai Tiên cô, mười hai Thánh cậu, ngũ hổ Đại tướng, Thanh Hoàng Bạch xà đại tướng. Hưởng tử con là……………………………………….Tuổi………………. Ngụ tại……………………………………………………….. Hôm nay là ngày…… tháng.…..năm………………………….Âm lịch Hương tử con đến nơi Điện hoặc Phủ, hoặc Đền………chắp tay kính lễ khấu đầu vọng bái, lòng con thành khẩn, dạ con thiết tha, kính dâng lễ vật, cúi xin các Ngài xót thương phù hộ độ trì cho gia đạo chúng con sức khoẻ dồi dào, phúc thọ khang ninh, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, cầu bình an đắc bình an, vạn sự hanh thông, gặp nhiều may mắn. Hương tử con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì. Phục duy cẩn cáo! Bài chia sẻ về bài khấn sao cho đúng của Bảo Long, mong rằng có thể giúp được gì đó cho gia chủ. Chúc bạn và gia đình có cuộc sống an lành, cầu được ước thấy. Nếu bạn đang tìm hiểu, muốn sở hữu các sản phẩm bằng đồng đồ thờ bằng đồng, hạc đồng, lư hương đồng… bạn có thể đến các showroom của Bảo Long trên toàn quốc, liên hệ trực tiếp qua Hotline để được hỗ trợ tốt nhất.
xin vào chùa ở một thời gian